Thử áp suất trong chai giúp đánh giá một phần khả năng làm việc của bao bì đồ uống có ga. Khi nhiệt độ và điều kiện sử dụng thay đổi, tải lên chai cũng thay đổi. Phép thử chỉ có giá trị so sánh khi ghi rõ phương pháp, mẫu và điều kiện; một giá trị áp suất cao trên báo cáo không tự chứng minh cả hệ chai, nắp và đồ uống phù hợp.
Hai phương pháp thử áp suất ISO 7458
| Phương pháp | Cách đặt tải | Cách dùng kết quả |
|---|---|---|
| ISO 7458 phương pháp A | Áp dụng áp suất trong không đổi trong khoảng thời gian đã định. | Đánh giá mẫu theo mức áp và thời gian được quy định trong kế hoạch thử. |
| ISO 7458 phương pháp B | Tăng áp suất với tốc độ không đổi đã định. | Ghi đáp ứng tại điểm kết thúc đã quy định, chẳng hạn áp suất vỡ trong phép thử tới vỡ. |
Chọn phương pháp từ câu hỏi cần trả lời. Duyệt thiết kế mới có thể cần thông tin phân bố mức vỡ; kiểm tra lô có thể cần xác nhận ở mức đã thống nhất. Nhưng không có quy tắc tự động “A cho thiết kế, B cho sản xuất”. Phải ghi đúng ký hiệu cùng cách thử để người mua và phòng thử không thực hiện hai việc khác nhau.
Đọc kết quả vỡ trong thử áp suất chai
Một mẫu không đại diện toàn bộ sản xuất. Lấy mẫu có nhận diện lô và khoang khuôn khi phù hợp, giữ kết quả từng mẫu, số hỏng và phạm vi phân bố. Giá trị thấp là tín hiệu cần điều tra; trung bình cao không bù được một đuôi phân bố yếu.
Ngược lại, giá trị nhỏ nhất của một nhóm nhỏ cũng không tự xác định độ tin cậy của mọi chai sẽ giao. Kích thước mẫu và tiêu chí chấp nhận phải nằm trong kế hoạch kỹ thuật. Không lấy áp suất vỡ đo được làm áp suất làm việc được phép mà không có đánh giá ứng dụng và mức dự phòng đã thống nhất.
Thành chai và kết quả thử áp suất
Phân bố thành ảnh hưởng trạng thái ứng suất, nhưng chỗ mỏng nhất không phải lúc nào cũng là điểm bắt đầu vỡ. Hình dạng, vết xước, khuyết tật, ứng suất dư và cách đặt mẫu đều có thể tác động. Tổng khối lượng thủy tinh không cho biết riêng vùng nào thiếu vật liệu hoặc có tổn thương.
SGSBOTTLE có 7 dây chuyền ở Sơn Đông. Khi đánh giá một mẫu, yêu cầu dữ liệu phân bố thành và vị trí vỡ tương ứng nếu cần; không suy từ số dây chuyền rằng mọi phép đo đều thực hiện tự động trên mọi sản phẩm. So sánh ảnh mẫu hỏng với bản vẽ và điều kiện tạo hình giúp đặt câu hỏi đúng cho bước điều tra.
Màu chai và kiểu nắp trong ảnh không chứng minh mức chịu áp của thiết kế.
Nhiệt độ trong kế hoạch thử áp suất
Đồ uống có ga thường tăng áp khi ấm lên trong điều kiện liên quan. Chai bia 330 ml (11,2 US fl oz) có thể gặp nhiệt độ khác ở kho, dây chuyền và hành trình. Không dự đoán một mức áp cụ thể chỉ từ tuyến đi hoặc hình ảnh container nóng.
Mô tả dải nhiệt có cơ sở, nồng độ ga, lượng nạp và bước gia nhiệt hoặc làm lạnh của sản phẩm. Điều kiện bất lợi có thể xuất hiện khi thanh trùng hoặc sử dụng, không chỉ trong vận tải. Thử sức chịu áp là một phần của đánh giá; cần xét kín nắp và sốc nhiệt khi ứng dụng yêu cầu.
Ghi yêu cầu thử áp suất trong quy cách
Ghi tiêu chuẩn và phiên bản áp dụng, phương pháp A hoặc B, mức áp với thời gian giữ hoặc tốc độ tăng, cùng điểm kết thúc và đơn vị đo. Tiếp theo là cách lấy mẫu, số mẫu, nhận diện lô, tần suất và tiêu chí chấp nhận. Nếu cần dữ liệu đến vỡ, nêu rõ cách báo các mẫu chưa vỡ ở giới hạn máy.
Quy cách thành tối thiểu có thể hỗ trợ kiểm soát thiết kế, nhưng không thay phép thử và không tự bảo đảm mức áp. Với chai 750 ml (25,4 US fl oz), yêu cầu kết quả của đúng thiết kế và cấu hình liên quan. Hai báo cáo dùng tốc độ hoặc chuẩn bị mẫu khác nhau không nên đem so trực tiếp chỉ bằng một con số.
Thông tin hỏi mẫu và thử áp suất chai
SGSBOTTLE có 2 cơ sở sản xuất. Gửi đồ uống, mức ga, dung tích ml/oz, quy trình chiết rót và thanh trùng, nắp, nhiệt độ dự kiến cùng hành trình. Nếu có tiêu chuẩn nội bộ hoặc kết quả trước đó, gửi kèm để thống nhất phạm vi.
Yêu cầu báo giá và kế hoạch thử cho đơn hàng, gồm dữ liệu có thể cung cấp, điều kiện, tần suất và cách xử lý kết quả không đạt. Chỉ chốt thông số chịu áp sau khi có bằng chứng cho ứng dụng; tên nhóm “chai bia” hoặc “nắp gài” không thay việc này.

